Đất Tử Nê và Phân Loại Dòng Đất Tử Nê.

Đất Tử Nê và Phân Loại Dòng Đất Tử Nê.

Đặc điểm nổi bật của khoáng liệu Tử Nê.

Các loại khoáng nỉa (đất liệu) thuộc dòng Tử Nê tại núi Hoàng Long chiếm khoảng 70% tổng trữ lượng Tử Sa, sở hữu chủng loại phong phú và được ứng dụng vô cùng rộng rãi. Cổ nhân xưa gọi là "Tử Ngọc Kim Sa", còn ngày nay thường gọi chung là Tử Sa. Khoáng Tử Nê có tính ứng dụng rộng nhất và là nguyên liệu chính để chế tác ấm Tử Sa. Tông màu tím có độ đậm nhạt khác nhau, chất đất cũng phân cấp từ phổ thông đến quý hiếm. Khoáng Tử Nê núi Hoàng Long càng khai thác xuống tầng sâu thì phẩm cấp lại càng cao. Phôi khoáng ở tầng giếng sâu có kết cấu dày dặn, đầm chắc, sắc cát mịn màng ngưng tụ.

Trong tất cả các loại chất liệu Tử Sa, Tử Nê có trữ lượng lớn nhất và cũng là nguyên liệu chính, phù hợp nhất để chế tác gốm Tử Sa. Nhờ trữ lượng phong phú, độ dẻo tuyệt vời, tính chất đất dễ làm chủ khi chế tác, dải nhiệt độ chịu nung tương đối rộng và tỷ lệ thành phẩm cao, nên từ các nghệ nhân Tử Sa thời Minh cho đến các nghệ nhân làm ấm hiện đại đều vô cùng ưa chuộng sử dụng Tử Nê. Tuy khoáng Tử Sa nguyên bản có chủng loại vô cùng phong phú nhưng Tử Nê vẫn luôn là lựa chọn hàng đầu của mọi nghệ nhân chế tác. Tông màu tím do Tử Nê mang lại chính là sắc màu chủ đạo tiêu biểu cho "Ngũ Sắc Thổ" (đất ngũ sắc) và là đại diện xuất sắc nhất trong bảng màu đa dạng của gốm Tử Sa. Bản thân "Tử Sa" nghĩa là "cát tím" và nó đã trở thành danh xưng đại diện cho nghệ thuật gốm sứ Tử Sa Nghi Hưng.

Nghệ thuật Tử Sa luôn coi trọng việc làm nổi bật sắc tím, bởi sắc tím thể hiện trọn vẹn cái thần thái của "Tử Ngọc Kim Sa". Cổ nhân từng ví vón: "Lúc ẩn lúc hiện, khi hóa sắc nho, lúc ửng tím thẫm", sắc tím là màu thể hiện rõ nhất nét quyến rũ cổ nhã, nội hàm và tươi nhuận bóng đẹp. Vẻ đẹp của sắc tím là vẻ đẹp thâm trầm nhất, khiến tâm trí và cơ thể con người lập tức lắng tịnh.

Bên cạnh đó, Tử Nê sở hữu ưu thế vượt trội nhất cả về công năng lẫn hình thức thể hiện nghệ thuật. So với Đoạn Nê hay Hồng Nê vốn có những hạn chế nhất định trong tạo hình nghệ thuật, chất liệu Tử Nê lại hội tụ đầy đủ các điều kiện hoàn hảo nhất: độ dính, độ cứng, độ mềm dẻo, tính sa (cát), độ dẻo và chất bùn mịn. Suốt hàng trăm năm qua, việc các nghệ nhân làm ấm lẫn giới thưởng trà sành sỏi đều ưu tiên lựa chọn chất liệu Tử Nê để tạo tác và sưu tầm chính là có lý do như vậy.

Toàn bộ hoạt động khai thác vỉa khoáng Tử Nê tại núi Hoàng Long được bắt đầu từ những năm 1950 của thế kỷ 20. Tổng công ty Nguyên liệu Công ty Gốm sứ Nghi Hưng Quốc doanh đã cho khai thác 5 giếng mỏ chính tại núi Hoàng Long, gọi là: Giếng số 1, Giếng số 2, Giếng số 3, Giếng số 4 và Giếng số 5 (bao gồm cả các giếng khai thác của người dân vùng Đài Tây). Từ độ sâu dưới 30 mét của núi Hoàng Long kéo dài cho đến độ sâu hàng trăm mét của Giếng số 4 đều có trữ lượng khoáng Tử Nê. 

Dưới độ sâu hàng trăm mét của Giếng số 4 (Tứ Hào Tỉnh) chính là nơi cất giữ loại khoáng Tử Nê thượng hạng nhất, dân gian thường gọi là Đáy Tào Thanh (Đế Tào Thanh). Đáy Tào Thanh của Giếng số 4 được xem là phẩm cấp cao nhất trong dòng Tử Nê. Nguyên nhân là vì càng khai thác xuống sâu hàng trăm mét, áp lực từ tầng đá bên trên càng lớn, khiến cho phôi khoáng Đáy Tào Thanh càng kết cấu đầm chắc, độ nén cao, hàm lượng cát lớn và khả năng chịu nhiệt độ nung cực kỳ cao.

Đất khoáng Tử Nê sở hữu độ dẻo và độ ổn định tốt nhất, điều này liên quan trực tiếp đến tính đặc thù trong thành phần khoáng chất mà nó chứa đựng. Khoáng Tử Nê thuộc loại đá hạt bột (phấn nham) và đá hạt cát (sáp nham), chất đá cứng đặn, khối khoáng sắc bén như giáp sắt. Hàm lượng sắt trong khoáng Tử Nê cao hơn hẳn so với các loại khoáng Tử Sa khác.

Các loại khoáng Tử Nê chất lượng cao tại núi Hoàng Long có nhiệt độ nung ngưỡng tới hạn đạt tới 1250°C. Khi nung, độ co ngót nhỏ, phôi mộc có độ ổn định rất tốt. Dưới sự kiểm soát nhiệt độ linh hoạt, đất có thể biến thiên ra hàng loạt sắc độ đa dạng như: tím đậm, tím gan gà trầm, đỏ gan gà, tím quả cà, tím cổ, tím trầm, tím nho, tím xám xanh, xám xanh, hay sắc xanh ẩn hiện ánh tím. Sắc tím có độ đậm nhạt phong phú, biến hóa kỳ ảo tựa như một bức tranh thủy mặc vẩy mực đầy tự nhiên và vô tận. Bề mặt gốm có hiệu ứng kết cấu phân tầng rõ rệt, cốt gốm dày dặn chắc chắn, hạt sa mịn màng tươi tắn, sờ vào mềm mịn như ngọc — một vẻ đẹp tự nhiên toát lên linh khí trọn vẹn.

tử-nê-2.jpg
Khoáng Liệu Tử Nê mỏ 3.
đáy-tào-thanh-2.jpg
Khoáng Liệu Đáy Tào Thanh mỏ 4.
thiên-thanh-nê-2.jpg
Khoáng Liệu Thiên Thanh Nê mỏ 4.
hồng-bì-long-2.jpg
Khoáng liệu Hồng Bì Long.

Phân loại các loại đất Tử Nê

Tử Nê được chia thành các dòng kinh điển:

  • Đất Tử Nê nguyên khoáng là dòng đất tử kinh điển và khá phổ biến. Tuy nhiên, loại chất lượng tốt thì hiếm mà loại chất lượng kém lại nhiều.

Đặc điểm: Độ ổn định tốt, dễ khống chế, độ gắn kết chắc chắn có thể chế tác các tượng điêu khắc kích thước lớn, dễ tạo hình là loại đất được các nghệ nhân vô cùng ưa chuộng.

Sắc độ sau khi nung: Màu đất chín chắn, trầm ổn, trang nghiêm, thích hợp làm các tác phẩm từ nhỏ đến lớn. Ấm thể hiện tông màu tím nâu, mang lại cảm giác an yên, độ thân thiện (dễ hòa hợp) rất cao.

IMG_0527-2.jpg
Tử Nê.
  • Đế Tào Thanh (底槽青) 

Đặc điểm: Quặng thô rất cứng, đầm nặng như sắt, bề mặt có vảy kiềm lục/vàng nhạt.

Sắc độ sau nung: Tùy nhiệt độ lò có thể ra màu gan gà trầm (Tử Ám Gan), đỏ gan gà (Hồng Ám Gan), hoặc tím cổ đầm đặm.

Biến thể địa lý: Ngoài Giếng 4, khu vực Đài Tây cũng có loại này nhưng phẩm cấp kém hơn chút, gọi là Đài Tây Đáy Tào Thanh.

IMG_0622-2.jpg
Đáy Tào Thanh.
  •  Hồng Bì Long (红皮龙)

Đặc điểm: Nằm ở tầng khoáng tương đối nông (như khu vực phía Bắc núi Hoàng Long/vùng Đài Tây). Bề mặt quặng thô có màu đỏ như da rồng, tính đất mềm mại, độ dẻo cực tốt.

Sắc độ sau nung: Đỏ ẩn ánh tím (thường bị nhầm với Hồng Nê nếu nung nhiệt thấp), ấm áp và tươi nhuận.

  •  Thiên Thanh Nê (天青泥) 

Đặc điểm: Quặng thô quý hiếm xuất hiện ở mỏ cổ Đại Thủy Đầm hoặc tầng Ô Nê/Giáp Nê. Quặng thô có màu xanh xám/xanh lam nhạt tựa màu trời sau mưa, bề mặt bóng như sáp/mỡ cừu. 

Sắc độ sau nung: Tím thuần khiết tươi nhuận, tím ẩn ánh xanh/lam, xám xanh hoặc xanh vỏ cua (Giải Xác Thanh).

IMG_1202-2.jpg
Thiên Thanh nê.
  • Thanh Thủy Nê (清水泥)

Vốn là tên một kỹ thuật luyện đất khoáng đơn (Đơn nguyên khoáng): Quặng Tử Nê thuần khiết chỉ qua nghiền, ủ (trần hủ), thêm nước và đánh chân không, không pha hóa chất hay phụ gia.

Người làm gốm Nghi Hưng thường gọi là "Phổ Nê" (đất phổ thông) vì đây là chất đất tương đối phổ biến, tuy nhiên loại tốt thì hiếm và đắt, loại kém lại nhiều và rẻ. Giới chơi ấm thường thói quen gọi là "Hồng Tử Nê" (Tử nê ánh đỏ).

Ngày nay được dùng làm tên gọi chung cho các loại Tử Nê phổ thông. Khi nung dưới 1200 cho ra màu nâu đỏ/đỏ tím nhạt, nung trên 1200 mới ra sắc tím tự nhiên.

  •  Tử Nê Điều Sa (调砂紫泥)

Tử Nê nguyên bản được thợ luyện đất chủ động thêm vào các hạt sa liệu (cát) với kích thước mục số (mesh) khác nhau (như hạt Đoạn Nê vàng, hạt Chu Nê đỏ).

 Giúp tạo ra hiệu ứng bề mặt phong phú như "lạc sao" (sao rơi), "lê bì" (vỏ quả lê), tăng độ thoáng khí cho cốt ấm.

thumb-tusavothanh-am-tu-sa-minh-lo-03-2.jpg
Tử nê rải sa tạo hiệu ứng cát vàng.

  • Ngoài ra còn vô số chủng loai Tử nê tùy thuộc vào thành phần khoáng chất (hàm lượng sắt, nhôm, thạch anh) và màu sắc quặng thô, vị trí địa lý, cột mốc thời gian. Tiêu biểu như Hắc Tinh Thố, Hắc Đôn Đầu, Thiết Sa Tử Nê, Hắc Nê, Hồng Tử Nê, Bính Tử Nê, Văn Cách Tử Nê.......

 

 

****Thông tin trên được dịch từ sách Khoáng Liệu Nghi Hưng và thông tin tổng hợp chính thống của Trung quốc cùng 1 số kinh nghiệm bản thân. 

 

Tin tức khác